Loading...

Thị trường cà phê phái sinh

04/12/18

Chuyên đề thị trường cà phê phái sinh

Bài giới thiệu

Trong tiến trình hình thành, tồn tại và phát triển, nền kinh tế thế giới đã trải qua những giai đoạn tiến hóa tất yếu từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa giản đơn, trong đó trao đổi hàng hóa chuyển biến từ hình thức hàng đổi hàng sang giao dịch bằng tiền mặt. Mỗi bước tiến sáng tạo là một bước ngoặt quan trọng trong nền kinh tế, đánh dấu sự thay đổi từng bước và hoàn thiện về hành vi, nhận thức của con người. Thời đại ngày nay khi khoa học công nghệ phát triển vượt bậc thì trao đổi hàng hóa không còn đơn thuần được thanh toán bằng tiền mặt mà còn xuất hiện các hình thức thỏa thuận bằng hợp đồng, theo đó thời gian và địa điểm được ấn định trong tương lai.

Ngày nay kinh doanh hàng hóa có xu thế được thực hiện trên thị trường phái sinh hàng hóa, bằng các công cụ tài chính đặc thù của thị trường như cà phê, cao su, ca cao, tiêu… Tuy thị trường này được thành lập cách đây không lâu và vẫn chưa được phổ biến như giao dịch truyền thống bằng tiền mặt, song đây được xem là hướng đi mới trong tương lai của các doanh nghiệp trong nước lẫn quốc tế. Hình thức giao thương bằng các công cụ phái sinh tạo nên hàng rào hạn chế rủi ro về giá cho doanh nghiệp, giảm thiểu thời gian và chi phí tìm kiếm thị trường. Để thu được nhiều lợi nhuận, hoặc tránh những trách nhiệm ràng buộc trong hợp đồng khi không muốn sở hữu hàng hóa đã thỏa thuận, các hợp đồng có thể được chuyền tay nhiều lần, trước ngày hết hạn hợp đồng.

Giai đoạn 2005 – 2006 được xem là giai đoạn đầu tiên áp dụng thị trường phái sinh vào Việt Nam thông qua các hợp đồng tương lai, và một trong số những hàng hóa được giao dịch trên thị trường là mặt hàng cà phê.

Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới với chất lượng kiểm định theo chuẩn quốc tế, nhưng giá cà phê xuất khẩu của nước chỉ bằng 65 – 85% giá xuất khẩu cà phê của các nước khác; bởi do các doanh nghiệp kinh doanh cà phê trong nước chưa xác định kế hoạch kinh doanh dài hạn, cà phê chủ yếu được bán hàng loạt vào đầu mùa, tạo cơ hội cho người mua gây sức ép về giá. Vì vậy, thị trường cà phê phái sinh kỳ vọng là hướng đi mới trong việc giải quyết đầu ra cho ngành cà phê, ổn định giá bán và giảm thiểu rủi ro khâu thương mại, tạo môi trường kinh doanh tương đối ổn định về giá, khuyến khích doanh nghiệp và nông dân Việt Nam yên tâm tập trung sản xuất, khai thác hiệu quả nguồn lợi cây cà phê mang lại.

Chuyên đề này sẽ giới thiệu khái quát về quá trình phát triển thị trường cà phê phái sinh trên thế giới và tại Việt Nam, định hướng phát triển thị trường cà phê phái sinh Việt Nam trong thời gian tới.

Bài 1: Khái niệm các công cụ của thị trường cà phê phái sinh

  1. Khái niệm thị trường phái sinh

Thị trường phái sính (derivatives market) là nơi diễn ra các ký kết và thực hiện gioa dịch các sản phẩm phái sinh. Sản phẩm phái sinh là một sản phẩm tài chính mà kết quả của nó được tạo ra từ kết quả của sản phẩm khác hay còn gọi là tài sản cơ sở (tài sản cơ sở có thể là trái phiếu, cổ phiếu, tiền tệ hoặc hàng hóa). Giá trị tài sản phái sinh được xác định dựa trên sự biến động giá trị của tài sản cơ sở. Công cụ tài chính phái sinh được sử dụng để chuyển nhượng rủi ro không mong muốn cho các đối tác là những người có rủi ro được bù đắp hoặc muốn thừa nhận rủi ro đó.

  1. Các loại phái sinh cà phê cơ bản

Thị trường cà phê phái sinh bao gồm các hợp đồng cơ bản như: hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn và hợp đồng hoán đổi.

  1. Hợp đồng kỳ hạn (forward contract)

Khái niệm: Hợp đồng kỳ hạn là hợp đồng được ký kết giữa người mua và người bán tại thời điểm hiện tại nhưng việc thực hiện hợp đồng lại diễn ra ở một thời điểm trong tương lai. Giá trị của hợp đồng kỳ hạn chỉ được giao nhận vào ngày đáo hạn hợp đồng, không có khoản chi trả nào được thực hiện vào ngày ký kết hoặc trong thời hạn hợp đồng.

Đặc điểm:

– Thực hiện qua thị trường phi chính thức (OTC);

– Không phải theo chuẩn của thị trường riêng biệt; điều khoản thỏa thuận linh hoạt;

– Rủi ro thanh khoản cao vì các bên tham gia khó có thể bán được hợp đồng;

– Rủi ro thanh toán cao vì khi đáo hạn hai bên sẽ giao dịch với mức giá đã được xác định trước, cho dù giá thị trường cao hơn hay thấp hơn giá xác định trong hợp đồng;

– Hợp đồng kỳ hạn thường được thực hiện dựa trên quan hệ thân tín, tin tưởng giữa các bên.

  1. Hợp đồng tương lai (future contract)

Khái niệm: Hợp đồng tương lai là hợp đồng kỳ hạn đã được tiêu chuẩn hóa và được giao dịch trên sàn giao dịch. Giá trị hợp đồng được điều chỉnh theo thị trường hàng ngày, trong đó khoản lỗ của một bên được chi trả cho bên còn lại.

Đặc điểm:

– Hợp đồng được giao dịch tại sở giao dịch thông qua trung gian là các nhà môi giới;

– Các điều khoản trong hợp đồng tương lai được tiêu chuẩn hóa;

– Hợp đồng tương lai phải có ký quỹ như nhau đối với cả người bán và người mua;

– Đa số hợp đồng tương lai đều được thanh lý trước thời hạn.

  1. Hợp đồng quyền chọn (option contract)

Khái niệm: Quyền chọn là một hợp đồng giữa người mua và người bán trong đó người mua quyền, nhưng không phải nghĩa vụ, để mua hoặc bán một tài sản nào đó trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày thỏa thuận. Người mua quyền trả cho người bán một số tiền gọi là phí mua quyền, hay còn gọi là giá của quyền chọn.

Đặc điểm:

– Phân loại: theo loại quyền gồm quyền chọn mua (call option) và quyền chọn bán (put option); theo kiểu hợp đồng gồm quyền chọn kiểu Mỹ và quyền chọn kiểu Châu Âu;

– Hợp đồng quyền chọn được giao dịch trên thị trường chính thức và phi chính thức.

  1. Hợp đồng hoán đổi (swap contract)

Khái niệm: Hợp đồng hoán đổi là chuỗi các hỳ hạn được thanh toán đều đặn tại nhiều ngày khác nhau trong tương lai với mức giá đã được thỏa thuận giữa hai bên. Các hoán đổi thông thường không có các thanh toán bằng tiền mặt giữa hai bên, do đó các hoán đổi có giá trị ban đầu bằng 0.

Đặc điểm:

– Các hợp đồng hoán đổi được thực hiện theo nguyên tắc bù trừ sẽ giúp giảm rủi ro tín dụng bằng cách cắt giảm khối lượng đồng tiền thanh toán giữa hai bên;

Trong 4 loại hợp đồng nêu trên thì hợp đồng cà phê tương lai là phổ biến nhất, hiện tại được giao dịch tại 2 sàn lớn trên thế giới là sàn ICE ở New York và sàn Liffe NYSE ở London.

Hợp đồng cà phê tương lai là hợp đồng ràng buộc được tiêu chuẩn hóa để giao hoặc nhận một khối lượng và loại cà phê riêng biệt tại một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá đã được thống nhất. Người mua hợp đồng có nghĩa vụ nhận hàng cà phê theo các điều khoản hợp đồng vào một ngày xác định, trong khi người bán có nghĩa vụ giao cà phê.

Đa số hợp đồng cà phê tương lai không bao giờ dẫn đến việc giao hoặc nhận hàng cà phê thực. Thay vào đó, người nắm giữ hợp đồng thanh khoản trạng thái của mình bằng các thực hiện các giao dịch bù trừ trong thị trường. Người mua bán hợp đồng họ đã mua và người bán mua lại hợp đồng, loại bỏ các nghĩa vụ giao hàng.

Ký quỹ cho hợp đồng cà phê tương lai

Để đảm bảo thực hiện hợp đồng, sở giao dịch yêu cầu người tham gia thị trường thanh toán tiền ký quỹ ban đầu và phát sinh. Tiền ký quỹ ban đầu là tiền nạp cọc để đảm bảo người tham gia thị trường sẽ thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng của mình.

Đòn bẫy

Điểm hấp dẫn của giao dịch cà phê tương lai đối với nhà đầu tư là đòn bẫy. Vì các giao dịch tương lai không yêu cầu thanh toán trước đầy đủ (chỉ cần tiền ký quỹ mà thôi) nên người mua hợp đồng cà phê tương lai có thể thu được khoản lời lớn nhờ cam kết đòn bẫy. Giả sử một nhà đầu tư có thể mua hợp đồng cà phê arabica tương lai (mỗi hợp đồng là 37.500 lb) với số tiền ký quỹ là 3.000 USD. Nếu nhà đầu tư mua một hợp đồng với mức giá 150 cents/lb (tốn 56.250 USD cho hợp đồng) và bán hợp đồng khi giá cà phê arabica chạm mức 165 cents/lb, thì nhà đầu tư đó sẽ thu lời 5.625 USD (15 cents x 37.500 lb = 5.625 USD) – một kết quả bằng 187,5% so với mức ký quỹ ban đầu khi trạng thái được thanh khoản.

Đó chính là đòn bẫy, nó có thể là công cụ đầu tư quyền năng. Tất nhiên đòn bẫy có cả mặt trái của nó. Nếu giá cà phê dao động ngược hướng kỳ vọng thì nhà đầu tư có thể mất toàn bộ số tiền ký quỹ và nhiều hơn thế nữa nếu không tuân thủ quy tắc và kỷ luật giao dịch thông thường.

Bài 2: Lịch sử phát triển thị trường cà phê phái sinh trên thế giới

1. Giới thiệu sự ra đời thị trường phái sinh hàng hóa

Những thành công đạt được từ việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp đã thúc đẩy lượng hàng hóa nông sản tăng trưởng nhanh chóng. Hàng hóa không chỉ đáp ứng dủ lượng cầu của một lãnh thổ, mà còn hướng đến xuất khẩu nguồn hàng dồi dào sang các vùng miền, quốc gia khác. Tuy nhiên, do những hạn chế về khả năng tìm kiếm nơi tiêu thu, thu hoạch theo mùa, hàng hóa cung ứng ồ ạt trên thị trường trong khoảng thời gian ngắn đã khiến cho người sản xuất luôn rơi vào trạng thái bị động về giá cả, gây thiệt hại cho cả bên cung và bên cầu.

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa nông sản trên thị trường, người sản xuất và nhà kinh doanh đã chủ động gặp nhau trước mỗi mùa vụ để thỏa thuận giá cả, khối lượng, chất lượng, thời điểm giao hàng cụ thể trong tương lai. Song ban đầu những thỏa thuận này vẫn còn rất đơn giản, nhỏ lẻ, không có tính quy chuẩn rõ ràng, cụ thể.

Năm 1848, Sàn Thương mại Chicago (Chicago Board of Trade – CBOT) được thành lập hướng tới mục đích tiêu thụ ngũ cốc bằng cách chuẩn hóa số lượng, chất lượng và phát triển các hợp đồng dài hạn về mua bán ngũ cốc. Hợp đồng kỳ hạn được giao dịch trong giai đoạn đầu tiên này. Năm 1865, sàn CBOT chính thức triển khai các hợp đồng được tiêu chuẩn hóa, được gọi là hợp đồng tương lai (futures).

Thị trường phái sinh hàng hóa ra đời là một hệ quả tất yếu của nền kinh tế thị trường, là sự đa dạng hóa hình thức giao thương và mậu dịch tự do quốc tế. Những sản phẩm của thị trường phái sinh được ứng dụng rộng khắp trên toàn cầu, mang đến những lợi ích tích cực, tạo điều kiện thuận lợi trong lưu thông hàng hóa nông sản nói riêng và các hàng hóa khác trong lĩnh vực công nghiệp, tài chính nói chung. Hàng hóa phái sinh đã góp phần giảm thiểu rủi ro, chuyển rủi ro từ người sản xuất sang thị trường, giúp bên cung ứng yên tâm, tập trung chuyên môn để sản xuất.

2. Sàn giao dịch cà phê phái sinh đầu tiên trên thế giới

Sàn giao dịch cà phê, đường và cacao (CSCE) là sàn giao dịch cà phê, đường và cacao tương lai và quyền chọn đầu tiên trên thế giới, được thành lập vào năm 1882 với tên gọi Sàn giao dịch cà phê tại thành phố New York. Hợp đồng đường tương lai được cho phép năm 1914, và vào ngày 28/9/1979 Sàn giao dịch cà phê và đường New York đã hợp nhất với Sàn giao dịch cacao New York (được thành lập năm 1925) trở thành Sàn CSCE. Vào năm 1998, CSCE hợp nhất với Sàn giao dịch cotton New York là công ty con của Sàn Thương mại New York (NYBOT). Sàn CSCE hoạt động như đơn vị độc lập của Sàn NYBOT cho phép giao dich hợp đồng tương lai và quyền chọn đối với cà phê, đường, cacao và chỉ số hàng hóa S&P. Vào tháng 01/2007, Sàn NYBOT đã hợp nhất với Sàn giao dịch Liên lục địa (IntercontinentalExchange -ICE) tại New York và trở thành công ty con của Sàn ICE.

3. Các sàn giao dịch cà phê phái sinh quốc tế có uy tín

– Sàn giao dịch Liên lục địa tại New York (ICE) giao dịch chủ yếu cà phê arabica;

– Sàn giao dịch Tương lai và Quyền chọn Tài chính Quốc tế London (London International Finacial Futures and Options Exchange – Liffe) là một phần của tập đoàn Euronext, giao dịch chủ yếu cà phê robusta;

– Sàn giao dịch Tương lai Brazil (Brazilian Mercantile and Futures Exchange – BM&F);

– Sàn giao dịch Hàng hóa Singapore (Singapore Commodity Exchange – SICOM);

– Sàn giao dịch Ngũ cốc Tokyo (Tokyo Grain Exchange – TGE).

Đối với cà phê arabica, nơi giao dịch nhiều nhất là sàn ICE ở New York, còn đối với cà phê robusta, sàn Liffe ở London là nơi giao dịch các hợp đồng phái sinh nhiều nhất. Giá tương lai niêm yết trên các sàn đều khác nhau, tùy thuộc vào cung cầu của từng thị trường.

4. Nguyên tắc định giá cà phê

Khi các hợp đồng tương lai đến hạn, giá giao dịch chính thức (giá FOB – Freight on Board) sẽ bằng giá tương lai trên sàn, cộng tới (premium) hoặc trừ lùi (discount) với một khoảng chênh lệch, được gọi là nguyên tắc định giá theo cơ sở chênh lệch (differentials). Khoảng chênh lệch này có thể là chi phí vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu hoặc cũng có thể là chi phí giảm trừ do chất lượng kém và các khoản chi phí khác theo thỏa thuận.

Nguyên tắc định giá này được áp dụng với hầu hết các loại cà phê trên thế giới, ngoại trừ một số loại cà phê đặc biệt. Ví dụ trong giao dịch tương lai mà đối tượng hợp đồng là cà phê có xuất xứ từ Kenya, loại cà phê được đánh giá có phẩm chất tuyệt hảo nhất, sẽ được xác lập thông qua hệ thống đấu giá quốc gia, sau đó sẽ được điều chỉnh lại trong lần giao dịch tiếp theo dựa trên nguyên tắc cơ sở chệnh lệch.

5. Hợp đồng cà phê tương lai sàn ICE

Sàn ICE yêu cầu giao cà phê arabica thuần sản xuất tại Trung và Nam Mỹ, các nước Châu Á và Châu Phi hoặc cà phê arabica chưa thuần từ Ethiopia.

Đơn vị giao dịch: 37.500 lb (xấp xỉ 250 bao)

Giờ giao dịch: 3:30 – 14:00 giờ New York (Giờ Việt Nam: 03:30 chiều ngày hôm nay đến 02:00 sáng hôm sau)

Định giá: cents/lb

Hợp đồng giao theo tháng: tháng 3, tháng 5, tháng 7, tháng 9, tháng 12

Giao động giá tối thiểu: 5/100 cent/lb, tương đương 18,75 USD mỗi hợp đồng.

6. Hợp đồng cà phê tương lai sàn Liffe

Đơn vị giao dịch: 10 tấn

Giờ giao dịch: 09:00 — 17:30 giờ London (04:00 chiều đến 12:30 đêm)

Định giá: USD/tấn

Hợp đồng giao theo tháng: tháng 1, tháng 3, tháng 5, tháng 9, tháng 11

Giao động giá tối thiểu: 1 USD/tấn hay 10 USD mỗi hợp đồng

Bài 3: Lịch sử phát triển thị trường cà phê phái sinh tại Việt Nam

1. Quá trình hình thành và sử dụng công cụ cà phê phái sinh tại Việt Nam

Tại Việt Nam, giao dịch kỳ hạn xuất hiện với tư cách là công cụ tài chính phái sinh đầu tiên ở Việt Nâm theo Quyết định số 65/1999/QĐ-NHNN7 ngày 25/02/1999. Các hợp đồng kỳ hạn được thực hiện lúc này chủ yếu là các giao dịch buôn bán ngoại tệ giữa ngân hàng thương mại với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, hoặc giữa các ngân hàng thương mại với nhau.

Nằm trong chương trình xây dựng thí điểm chợ đầu mối của 3 vùng nguyên liệu tập trung: Chợ lạc của Nghệ An, Chợ gạo của Cần Thơ và Chợ cà phê của Đắc Lắc và thông qua đề xuất của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắc Lắc, Trung tâm Giao dịch Cà phê Buôn Ma Thuột (BCEC) đã được thành lập theo quyết định Quyết định 2278/QĐ-UBND ngày 04 tháng 12 năm 2006 của UBND tỉnh Đắc Lắc. Ngân hàng Techcombank đóng vai trò là ngân hàng ủy thác thanh toán và nhà môi giới giao dịch cho BCEC, mô hình sàn giao dịch được thành lập theo mô hình sàn giao dịch ở London và giao dịch mua bán giao ngay và giao sau là hai giao dịch chính thức được thực hiện tại đây. BCEC ra đời giúp cho việc thực hiện mua bán giữa người nông dân và doanh nghiệp giảm bớt khâu trung gian, thực hiện giao dịch trực tiếp, công khai, minh bạch, các nhà tài chính cũng có thêm môi trường lành mạnh để đầu tư kinh doanh. Tuy nhiên, do bước đầu gia nhập thị trường phái sinh, BCEC cũng gặp phải nhiều khó khăn về phần mềm điều hành giao dịch, quy chế giao dịch, cũng như cơ sở vật chất, nên thời gian đầu không thu hút được nhiều người tham gia, làm cho thị trường mất đi tính thanh khoản, sàn giao dịch không phát huy được hiệu quả như mong đợi.

Theo báo cáo của Trung tâm giao dịch cà phê Buôn Ma Thuột, kể từ ngày khai trương (tháng 12/2008) đến nay, trung tâm mới chỉ phát triển được 90 thành viên. Trong đó có 63 thành viên đăng ký bán, 23 thành viên kinh doanh và 4 thành viên môi giới. Trong 5 năm qua, trung tâm đã rất cố gắng phát triển thành viên với 12 chương trình hội thảo giới thiệu hoạt động và hướng dẫn quy định về giao dịch, 18 đợt tiếp xúc trực tiếp với các doanh nghiệp, nhà sản xuất, nhà đầu tư, 15 đợt đào tạo, tập huấn. Tuy nhiên, Trung tâm vẫn khó phát triển thành viên, đặc biệt là với người nông dân trồng cà phê. Khối lượng cà phê giao dịch qua trung tâm cũng ngày càng giảm.

Nguyên nhân là do mô hình hoạt động giao dịch qua Sở giao dịch hàng hóa hiện nay chưa hoàn thiện về chính sách nhà nước như chưa có quy định về hoạt động tạo lập thị trường, hướng dẫn hoạt động của ngân hàng thanh toán bù trừ, thuế, phí… Cơ chế tài chính hiện tại chưa cho phép trung tâm thực sự chủ động trong các hoạt động đầu tư cơ sở vật chất. Các đơn vị phối hợp cũng rất khó khăn về tài chính dẫn đến không triển khai được hoạt động hỗ trợ, tạo dựng thị trường giao dịch.

2. Triển vọng phát triển của thị trường cà phê phái sinh Việt Nam

Trong năm 2011, thị trường cà phê tương lai Liffe ở London đã chính thức cho phép doanh nghiệp và cá nhân tại Việt Nam được mở kho và gửi mẫu sang Trung tâm Kiểm tra chất lượng tại London, giúp rút ngắn thời gian giao hàng, nhận tiền khi các doanh nghiệp Việt Nam muốn bán sản phẩm cà phê ra thị trường thế giới.

Việt Nam là nước sản xuất đầu tiên được Liffe đưa ra quyết định này. Không chỉ riêng Liffe, Sở Giao dịch hàng hóa Singapore (SICOM), sàn Tocom (Nhật) cũng đã có những hoạt động tiếp thị nhằm thu hút doanh nghiệp và nhà đầu tư (NĐT) tham gia. Điều này cho thấy thị trường hàng hóa của VN, nhất là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực được các sở giao dịch hàng hóa lớn trên thế giới chú ý. Đối tượng tham gia tiềm năng không chỉ là các doanh nghiệp, các nhà đầu tư mà còn có những người nông dân, giúp họ tránh khỏi tình trạng “đơợc mùa mất giá, được giá mất mùa”. Đây có thể là một bước đi tiến bộ trong hoạt động sản xuất nông sản của người nông dân tại Việt Nam, giúp họ giảm được nỗi lo về biến động về giá trong nền kinh tế hiện nay.

Được đánh giá là tiềm năng nhưng số lượng tham gia của nhà đầu tư tổ chức và cá nhân còn khá hiếm. Một số nhà đầu tư tại TP.HCM cho biết do phương thức giao dịch là hợp đồng tương lai nên cần phải nghiên cứu kỹ để tránh bị “hớ” khi mua bán. Nhất là việc dự báo giá cả hàng hóa phải cần có thêm nhiều thông tin như được mùa, mất mùa, nước nào gia tăng dự trữ. Vì vậy cũng giống như thị trường chứng khoán, các cá nhân, doanh nghiệp trong nước đều có tâm lý “thực tập” ở sàn trong nước trước khi ra sàn ngoại.

Xét về vĩ mô, sàn giao dịch sẽ quy định mức giá chung làm phong vũ biểu cho cả thị trường, tạo sự cân bằng, công khai, minh bạch cho người nông dân cũng như nhà đầu tư, họ đều có cơ hội như nhau trong việc tiếp cận và khai thác thông tin trên thị trường.

Sàn giao dịch cà phê hình thành mở ra môi trường đầu tư mới theo tiêu chuẩn quốc tế, tạo điều kiện hội nhập thị trường cà phê phái sinh thế giới. Việt Nam dẫn đầu thế giới về xuất khẩu cà phê robusta. Sàn giao dịch sẽ là nơi quảng bá thương hiệu cà phê Việt Nam với thế giới, giúp xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng cho mặt hàng xuất khẩu cà phê tại Việt Nam.

Còn xét về tầm vi mô, sàn giao dịch ra đời do nhu cầu nội tại và thiết thực của các thành phần trong chuỗi cung ứng hàng hóa nguyên liệu thô trong việc tìm kiếm giá tối ưu, vì các doanh nghiệp kinh doanh nguyên liệu thô như cà phê luôn tìm kiếm cơ hội mua bán trên những sàn giao dịch quốc tế lớn khác.

Cơ chế của sàn giao dịch giúp giảm thiểu biến động giá thông qua bàn tay vô hình, mọi cá nhân đều hành động vì lợi ích riêng của mình vô tình điều chỉnh thị trường một cách liên tục đến khi cân bằng. Khi lượng cà phê trên thị trường dư thừa, nhà sản xuất sẽ giảm giá và sản xuất ít đi do nhu cầu suy giảm, ngược lại, khi cà phê trên thị trường thâm hụt thì nhà sản xuất sẽ tăng giá và sản xuất thêm để đáp ứng lượng cầu đang tăng. Sự tái cân bằng liên tục này sẽ giúp thị trường thoát khỏi chu kỳ tăng trưởng quá mức dẫn đến sụp đổ.

Từ thông tin mà thị trường cà phê phái sinh cung cấp, cùng với quan hệ cung cầu tương tác của hàng ngàn nhà đầu tư tham gia thị trường sẽ giúp xác định giá một cách công bằng, công khai mà sàn giao dịch cà phê sẽ là nơi giúp thực hiện điều đó. Dựa trên mức giá được xác định đó, người sản xuất và người tiêu dùng sẽ xác định được mức hàng hóa cần phải sản xuất hoặc tiêu thụ. Việc điều hành tốt hoạt động của sàn giao dịch cà phê sẽ góp phần nâng cao vai trò, cũng như chức năng của sàn, nhằm phát triển hệ thống sở giao dịch nội địa.

Bài 4: Xu thế giao dịch cà phê tại Việt Nam

1. Thị trường giao ngay

Tại Việt Nam, đặc biệt các vùng cao nguyên, miền núi, do điều kiện giao thông, cơ sở hạ tầng còn khó khăn, cà phê được thu hoạch không thể bán trực tiếp cho Trung tâm Giao dịch Cà phê Buôn Mê Thuột, sàn có uy tín, được thành lập từ sự góp vốn của Nhà nước. Hơn nữa, nông dân trồng cà phê vẫn chưa thể tiếp cận với quy trình giao dịch vốn khá phức tạp, tiên tiến của sàn giao dịch cà phê phái sinh, cũng như quy mô gieo trồng và sản lượng cà phê trong mỗi niên vụ vẫn còn nhỏ lẻ, phân tán. Điều đó đã gây trở ngại lớn cho người nông dân trong việc gửi bán cà phê mỗi khi đến mùa vụ, hạn chế cơ hội tìm kiếm nơi cung ứng hàng hóa an toàn, để họ có thể toàn tâm toàn ý đầu tư cho việc chuyên môn trồng trọt. Bên cạnh đó, chi phí từ giống, trồng trọt, chăm sóc, thu hoạch cà phê là một khoản tài chính không nhỏ đối với mỗi hộ gia đình có diện tích trồng từ 3-5 ha. Thử làm một phép cộng chi phí trồng 1 ha cà phê/năm, hiện nay ta thấy như sau:

– Phân bón: bình quân 2,5 – 3 tấn/ha tương ứng 15 triệu đồng;

– Dầu diesel chạy máy bơm tưới cà phê: bình quân 3,5 lần với 150 lít/lần, tương đương 7,5 triệu đồng;

– Công làm cành: 2 lần/năm tương đương 2,5 triệu;

– Nhân công chăm sóc: khoảng 15 triệu đồng (bao gồm tiền ăn ở, đi lại, thuốc men…);

– Công hái và sơ chế: khoảng 60 nhân công với mức lương 100.000 đồng/ngày, tương đương 6 triệu đồng.

Qua tính toán sơ bộ chi phí cho 1 ha cà phê mất ngót 50 triệu đồng/năm, đó là chưa tính đến khấu hao vườn cây, thuốc trừ sâu, khấu hao máy móc thiết bị, công quản lý… Đối với một hộ gia đình vùng núi cao, khoản chi phí này là khá lớn, và thường họ không đủ vốn tự có để trang trải số tiền phải chi ra. Muốn vay ngân hàng để đáp ứng nhu cầu vốn hiện tại cũng được xem là một giải pháp ít khả thi đối với nông dân. Họ sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận được vốn vay ngân hàng do những rắc rối từ thủ tục xin vay, tài sản đảm bảo thế cháp… Do đó vay qua các đại lý, bán bù trừ và ký gửi hàng tại đại lý là phương pháp quay vòng vốn được sử dụng rộng rãi, phổ biến tại các vùng cao nguyên.

Quy trình giao dịch giao ngay được thực hiện như sau: người nông dân sau khi thu hoạch cà phê sẽ bán bù trừ và ký gửi cà phê cho các đại lý. Các đại lý được xem là trung gian, thực hiện thu gom hàng từ các hộ nông dân nhỏ lẻ. Sau đó các đại lý sẽ bán hàng lại cho các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê, thường thì tiền hàng sẽ được doanh nghiệp đưa trước cho các đại lý. Quy trình này có thể được xem là giải pháp tạm thời tương đối khả thi cho nông dân và nhà xuất khẩu, trong điều kiện vẫn còn hạn chế về cơ sở hạ tầng, giao thông như hiện nay tại Việt Nam.

2. Thị trường tương lai (giao sau)

Quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu đã và đang mang lại nhiều cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam việc mở rộng thị trường giao dịch hàng hóa, trao đổi công nghệ kỹ thuật giữa các quốc gia, cũng như chuyên môn hóa, phát triển các công cụ, sản phẩm phái sinh tài chính hiện đại, thúc đẩy dòng chảy vốn và hàng hóa lưu thông nhanh chóng. Thị trường hàng hóa phái sinh là một trong những phát minh tiên tiến của nhân loại, là hình thức giao thương giữa người mua – người bán thông qua các hợp động giấy (hàng giấy), hàng hóa được giao sau với thời điểm giao dịch thực theo thỏa thuận trên hợp đồng, là sự phát triển vượt bậc, chứng khoán hóa các hợp đồng giao ngay truyền thống.

Thị trường cà phê tương lai tại Việt Nam sau 6 năm tồn tại và phát triển, khối lượng giao dịch trên thị trường ngày càng tăng, quy chuẩn trên hợp đồng kỳ hạn được định hướng dẫn theo tiêu chuẩn quốc tế, phổ biến dần trong giới kinh doanh cà phê, cũng như các bộ, ngành đang xem xét và hoàn thiện dần về luật, quy định giao dịch trên sàn (mặc dù còn rất nhiều hạn chế cần khắc phục để có thể đứng vững và tiếp tục phát triển trong thời gian tới, sẽ được phân tích trong bài kết tiếp).

Trung tâm Giao dịch cà phê Buôn Mê Thuột (BCEC)

BCEC thuộc tỉnh Đắc Lắc, là trung tâm giao dịch cà phê lớn nhất Tây Nguyên. Trung tâm đã cùng với các đơn vị ủy thác là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank), Tập đoàn Cà phê Thái Hòa và Công ty Giám định Hàng hóa Nông sản Xuất khẩu (CafeControl) thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tại Đắc Lắc đã thiết lập được thị trường giao dịch cà phê thông qua sàn giao dịch với phương thức giao ngay có thực và giao sau theo từng kỳ hạn của hợp đồng giao dịch cà phê robusta. Trong đó:

– Ngân hàng Techcombank đảm nhận vai trò ngân hàng ủy thác thanh toán cho các hoạt động giao dịch tại Trung tâm;

– Tập đoàn Cà phê Thái Hòa là công ty đảm nhận vai trò quản lý kho hàng, tổ chức vận hành hệ thống kho và nhà máy chế biến cà phê thô;

– Công ty Giám định hàng hóa CafeControl thực hiện nhiệm vụ kiểm định chất lượng đối với hàng hóa.

Do những hạn chế về công nghệ, luật quy định, tính chất nhà đầu tư và những yếu tố nội tại khác của nền kinh tế, tại Việt Nam chỉ mới áp dụng hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai trong các thương vụ giao dịch cà phê. Hợp đồng quyền chọn vốn được xem là công cụ phòng ngừa rủi ro cho các hợp đồng tương lai và kỳ hạn, với nhiều ưu điểm về tính linh hoạt trong thực hiện hợp đồng, vẫn chưa được các sàn giao dịch cà phê tại Việt Nam phát hành và sử dụng.

Bài 5: Thực trạng và hạn chế của sàn giao dịch cà phê tại Việt Nam

Trung tâm Giao dịch cà phê Buôn Mê Thuột (BCEC) chỉ mới áp dụng giao dịch kỳ hạn vào tháng 3/2011 song về một phương diện nào đó cũng đã gặt hái được những thành công nhất định. Tại BCEC, giá trị khớp lệnh đã được cải thiện phần nào trong thời gian gần đây, dù giá trị giao dịch vẫn ở mức xấp xỉ 10 tỷ đồng/tuần.

Tuy vậy, thị trường cà phê phái sinh Việt Nam vẫn còn khá non trẻ, đơn giản so với những hệ thống, mô hình giao dịch tiên tiến tại các sàn giao dịch uy tín trên thế giới, do đó không thể tránh khỏi những hạn chế, bất cập hiện tại. Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn chịu nhiều sự can thiệp của Nhà nước. Trong khi nguyên tắc cần thiết, quan trọng để một sàn giao dịch hoạt động hiệu quả là sự tập trung, tự do vận động, quyền tự quyết của nhà đầu tư. Mặc dù khi có sự can thiệp của Nhà nước, thị trường có thể hạn chế những ảnh hưởng khi nền kinh tế bị suy thoái hay phát triển quá lệch lạc. Nhưng do các doanh nghiệp nòng cốt trong sản xuất cà phê đều thuộc doanh nghiệp nhà nước nên có hiện tượng bù giá, bù lỗ, khiến các doanh nghiệp tư nhân khác ít hào hứng khi tham gia giao dịch trên thị trường tương lai.

Bên cạnh đó, thị trường giao sau sử dụng hệ thống, mô hình giao dịch khá tiên tiến, hiện đại nên các quy định có tính chặt chẽ, ràng buộc cao. Người bán phải có hàng hóa, được kiểm định gắt gao về chất lượng và số lượng theo tiêu chuẩn chất lượng quốc tế trước khi phát hành hợp đồng tương lai hay hợp đồng kỳ hạn; người mua phải thực hiện ký quỹ với một tỷ lệ được xác định tùy thuộc vào giá trị hợp đồng. Điều đó đã rạo rào cản cho các nhà đầu tư tham gia vào thị trường. Nếu so sánh với thị trường giao ngay vốn đơn giản, quen thuộc, dễ thực hiện thì thị trường tương lai trở nên ít được người dân và doanh nghiệp ưa chuộng. Hơn thế nữa, truyền thống kinh doanh ở Việt Nam chủ yếu là kinh doanh nhỏ lẻ, mua bán trực tiếp trên thị trường giao ngay, nhất thời người mua và người bán khó có thể thay đổi thói quen giao dịch này. Mặc khác do những biến động về giá nguyên liệu, nhiên liệu đầu vào tại Việt Nam khó lớn, khiến nông dân trong nhiều trường hợp buộc phải mua chịu, bán non cho các thương lái, đại lý mà gần như họ không còn sự lựa chọn nào khác.

Sau hơn bao năm manh nha và phát triển, cho đến nay thị trường cà phê phái sinh vẫn là cụm từ khá xa lạ đối với nông dân và doanh nghiệp kinh doanh cà phê tại Việt Nam. Công tác tuyên truyền, phố biến kiến thức, đào tạo, tập huấn phương thức giao dịch tại sàn vẫn chưa được thực hiện một cách rộng rãi cho cả bên cầu và bên cung ứng hàng hóa giao dịch. Với tính chất một nước nông nghiệp như Việt Nam, người trồng cà phê đa số vẫn là nông dân. Họ tham gia giao dịch tại sàn với tư cách là người cung cấp hàng hóa, nhưng lại bị hạn chế về mặt phổ cập công nghệ thông tin, cũng như quy trình giao dịch, lợi ích, hiệu quả khi lựa chọn hình thức giao sau thay vì giao ngay truyền thống. Nhiều doanh nghiệp sản xuất cà phê vẫn chưa hiểu rõ bản chất của sàn giao dịch là quản lý rủ ro về giá, tiết kiệm chi phí giao dịch, có thể linh hoạt trong việc nắm giữ hợp đồng hoặc bán lại hợp đồng, nghĩa vụ mua hàng hóa cà phê khi doanh nghiệp muốn.

Đồng thời, kênh giao dịch giao sau này cũng tỏ ra kém hấp dẫn với nhà đầu tư do họ bị hạn chế trong việc sử dụng các sản phẩm tiên tiến, các nghiệp vụ giúp tối đa hóa lợi nhuận. Nếu một nhà đầu tư thực hiện giao dịch hợp đồng tương lai trên sàn Liffe, người đó sẽ được tiếp cận nhiều sản phẩm tài chính hiện đại được thiết lập tại sàn, ví dụ như hợp đồng quyền chọn. Khi anh ta dự đoán giá cả hợp đồng tương lai kỳ hạn 3 tháng giảm, anh ta sẽ thực hiện hành vi bán khống số hợp đồng đó mà không bị bất cứ giới hạn nào. Đồng thời, để giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra trong trường hợp dự đoán của anh ta có thể sai, anh ta có thể mua thêm hợp đồng quyền chọn mua. Nếu giá hợp đồng tương lai thật sự tăng trong tương lai, anh ta sẽ không thực hiện hợp đồng quyền chọn mua, chỉ mất khoản phí cố định và thu về lợi nhuận cao từ việc bán khóng số hợp đồng trên. Song nếu hoàn cảnh tương lai xảy ra ngược lại với những gì anh ta dự đoán, anh ta sẽ thực hiện hợp đồng quyền chọn mua, nhằm giảm bớt thu lỗ từ hoạt động bán khống, với mức lỗ tối thiểu bằng với phí quyền chọn. Thế nhưng đối với một nhà đầu tư tại sàn giao dịch ở Việt Nam, anh ta lại mất đi rất nhiều cơ hội để có thể tìm kiếm lợi nhuận như nhà đầu tư tại sàn Liffe. Do trình độ tổ chức, quản lý, công nghệ phần mềm tại Việt Nam còn hạn chế nên sàn BCEC vẫn chưa thể đáp ứng trong việc cung cấp các hợp đồng quyền chọn và không cho phép nhà đầu tư thực hiện hành vi bán khống. Điều này cũng là một trong những nguyên nhân khiến thị trường cà phê phái sinh chưa thể thu hút nhiều nhà đầu tư tham gia.

Một nguyên nhân khác khiến thị trường giao sau tại Việt Nam còn nhiều bất cập, kém hấp dẫn nhà đầu tư đó là cơ sở pháp lý lỏng lẽo. Mặc dù sàn giao dịch hàng hóa đầu tiên ở Việt Nam ra đời năm 2002 nhưng đến năm 2005 mọi hoạt động của các sàn giao dịch hàng hóa mới được quy định tại Luật Thương mại 2005, Mục 3, 11 điều.

Nhìn chung thị trường cà phê phái sinh Việt Nam vẫn còn khá non trẻ, cơ chế quản lý sàn giao dịch vẫn chưa đạt chuẩn, cơ sở pháp lý rõ ràng. Những thiếu sót, chậm trễ này đã tạo nên những bất ổn về cơ cấu và quá trình hoạt động của hệ thống, gây ra những tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong việc mua bán, thực hiện hợp đồng khi đến hạn.

Bên cạnh việc xây dựng cơ sở pháp lý quản lý hoàn chỉnh, cụ thể, hợp lý, tạo động lực khuyến khích các nhà đầu tư tham gia giao dịch trên thị trường giao sau, thúc đẩy tăng trưởng khối lượng giao dịch tại sàn; thì việc phối hợp, liên kết chặt chẽ, logic giữa các đơn vị thành viên của hệ thống cũng là nhân tố quan trọng góp phần cải thiện cấu trúc, hoạt động của sàn giao dịch. Chỉ xét riêng bộ phận thanh toán bù trừ của sàn giao dịch, số lượng thành viên khá ít ỏi. Hiện nay tại Việt Nam, số lượng ngân hàng thương mại cổ phẩn hoạt động khá nhiều với mức vốn huy động lên đến vài ngàn tỷ đồng, song chỉ có 7-8 ngân hàng được cấp phép thực hiện thanh toán bù trừ cho các nhà đầu tư nội địa, là trung gian môi giới giữa các doanh nghiệp trong nước với các sàn giao dịch hàng hóa nước ngoài. Tại BCEC chỉ có 1 ngân hàng thực hiện thanh toán. Điều đó cho thấy thị trường giao sau vẫn chưa thật sự thu hút các đơn vị thành viên cùng tham gia tổ chức, mức độ liên kết giữa các đơn vị thành viên còn khá lỏng lẽo, chưa thể hiện được hết ưu thế, lợi ích của việc hình thành sàn giao dịch cà phê.

Bài 6: Rủi ro và thuận lợi khi tham gia thị trường cà phê phái sinh

1. Các loại rủi ro trong thị trường cà phê phái sinh

– Rủi ro hệ thống: rủi ro liên quan đến toàn bộ thị trường, do các yếu tố nằm ngoài khả năng kiểm soát nhà đầu tư và doanh nghiệp, có khả năng ảnh hưởng đến toàn bộ thị trường như lạm phát, tình hình bất ổn an ninh xã hội, những sự kiện liên quan đến kinh tế và chính trị.

– Rủi ro kiệt giá tài chính: rủi ro này liên quan đến sự thay đổi của các nhân tố như lãi suất, giá cả hàng hóa và tỷ giá.

– Rủi ro pháp lý: rủi ro do thay đổi về các quy định và định hướng quy định quản lý tác động bất lợi cho nhà đầu tư, có thể dẫn tới việc xem một số giao dịch hiện tại hoặc đang dự tính là bất hợp pháp.

– Rủi ro thanh khoản: rủi ro liên quan đến tình trạng thị trường kém sôi động, được thể hiện qua thực tế ít khối lượng giao dịch, chênh lệch giá mua và giá bán khá lớn.

– Rủi ro thanh toán: rủi ro thường hặp trong các giao dịch thanh toán quốc tế, trong đó một công ty giao dịch hai chiều với một đối tác khác, rủi ro là khoản thanh toán của mình đã chuyển đi nhưng chưa nhận được khoản thanh toán của đối tác, có thể do nguyên nhân phá sản, không có khả năng thanh toán hay lừa đảo.

2. Ưu điểm và tính hiệu quả của thị trường cà phê phái sinh

a. Ưu điểm

– Chi phí giao dịch thấp, nhà đầu tư có thể kiếm được lợi nhuận thông qua biến động hai chiều của thị trường.

– Tính thanh khoản của thị trường phái sinh cao hơn hẳn so với thị trường giao ngay. Trong thời kỳ lạm phát, theo thống kê cho thấy kênh đầu tư hàng hóa phái sinh cho hiệu quả sinh lời tốt hơn các kênh đầu tư truyền thống như trái phiếu, cổ phiếu… Do đó kênh đầu tư mới này sẽ thu hút thêm nhiều nhà đầu tư tham gia thị trường, tạo ra nhiều cơ hội tìm kiếm lợi nhuận và còn được bảo hộ rủi ro biến động về giá. Nhà đầu tư chính là nhân tố tạo nên tính thanh khoản, sự tham gia của nhà đầu tư giúp cải thiện tính thanh khoản, góp phần mở rộng và phát triển thị trường phái sinh.

– Mức vốn tham gia thị trường cà phê phái sinh tương đối thấp, nguồn vốn đòi hỏi nhà đầu tư khi tham gia vào thị trường không nhiều do sử dụng đòn bẫy tài chính. Tỷ lệ ký quỹ khi giao dịch trên sàn giao dịch hàng hóa thường không quá 10% giá trị hàng hóa.

– Các giao dịch bán khống trên thị trường phái sinh được thực hiện dễ dàng vì theo Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS), trên thị trường phái sinh hàng hóa chỉ có 15% là giao dịch bằng vật chất bằng mục đích thương mại và đầu tư, còn 85% là giao dịch vị thế (phòng ngừa rủi ro và đầu cơ). Mặc dù nghiệp vụ bán khống là con dao hai lưỡi của nền kinh tế, nhưng không thể bỏ qua mặt tích cực của nghiệp vụ này, nó giúp cân bằng thị trường, kéo thị trường đi xuống khi giá có tốc độ tăng nhanh trên thị trường.

b. Tính hiệu quả

Rõ ràng vẫn còn quá sớm để đánh giá mức độ hiệu quả của thị trường cà phê phái sinh tại Việt Nam song khi nhận xét về tính hiệu quả của kênh đầu tư còn khá mới mẻ này, có thể nói rằng thị trường cà phê phái sinh là công cụ phòng ngừa và quản lý rủi ro, bảo vệ đồng thời tạo ra lợi nhuận cho nhà đầu tư. Nắm rõ hoạt động của thị trường cà phê phái sinh, nhà đầu tư sẽ thực hiện dễ dàng với chi phí giao dịch cạnh tranh, thu được lợi nhuận thông qua các hoạt động kinh doanh chênh lệch giá và loại trừ những tác động tiêu cực từ việc giá điều chỉnh trên thị trường.

3. Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp cà phê trên thị trường phái sinh

Giao dịch cà phê thông qua sàn là kênh đầu tư khá mới mẻ tại Việt Nam, doanh nghiệp kinh doanh cà phê dễ gặp rủi ro nếu không có sự hiểu biết đúng đắn về thị trường. Vì thế số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cà phê tham gia sàn giao dịch thực sự không nhiều, đa phần vẫn thực hiện các giao dịch giao ngay truyền thống, hoặc giao dịch thỏa thuận dựa trên các mối quan hệ. Mức độ tham gia hoạt động trên thị trường cà phê phái sinh của các doanh nghiệp chỉ dừng lại ở các hợp đồng kỳ hạn.

Trước khi các sàn giao dịch hàng hóa tại Việt Nam được thành lập như hiện nay, nhiều doanh nghiệp cà phê Việt Nam đã chủ động tìm kiếm lợi nhuận từ các sàn giao dịch quốc tế như Liffe ở London, ICE ở New York. Đây là hoạt động kinh doanh được đánh giá khá tích cực, khi các doanh nghiệp chủ động đi tìm môi trường đầu tư kinh doanh mới, tuy nhiên chính sự mạo hiểm này đã đem lại không ít rủi ro dẫn tới thua lỗ, đặc biệt do thiếu thông tin dự báo xu hướng thị trường và không tuân thủ kỷ luật giao dịch, khiến cho các doanh nghiệp không còn mấy hứng thú với thị trường phái sinh hàng hóa này nữa. Niềm tin vào thị trường cà phê phái sinh bị giảm sút khiến cho hoạt động của các sàn giao dịch cà phê mới được thành lập không được nhiều nhà đầu tư quan tâm.

Với tình hình thị trường giao sau tại Việt Nam tương đối hoàn chỉnh, các sàn giao dịch đã đi vào hoạt động như hiện nay, một số doanh nghiệp khi tham gia thị trường nhằm hạn chế những rủi ro về giá cả trong tương lai, không ít doanh nghiệp đã thu về khoản lợi nhuận cao từ hình thức giao dịch cà phê tiên tiến này. Tuy nhiên thành công không phải lúc nào cũng đến với tất cả các nhà đầu tư. Một số doanh nghiệp xuất khẩu cà phê do tính toán sai về mức giá đã dẫn đến thua lỗ nặng nề, thậm chí có doanh nghiệp bị vỡ nợ và buộc phải phá sản.

Nhiều doanh nghiệp Việt Nam thực hiện ký hợp đồng bán cà phê trước khi mùa vụ bắt đầu, sau đó mới chốt giá với khách hàng dựa trên diễn biến thị trường. Do những hợp đồng chưa có giá bán cụ thể như vậy, doanh nghiệp hoàn toàn không thể vay tiền từ ngân hàng để bổ sung vào vốn lưu động hay để mua cà phê xuất khẩu ra nước ngoài. Đối với những doanh nghiệp có tiềm lực tài chính kém, không có nguồn hàng dự trữ, khi gần đến hạn giao hàng cho bên nhập khẩu, doanh nghiệp buộc phải vội vàng chốt giá trước để được ngân hàng chấp nhận cho vay và dùng khoản tín dụng đó trang trải cho chi phí mua cà phê từ nông dân, đại lý trong nước. Song do tính toán, dự đoán sai mức giá, khi doanh nghiệp thực hiện mua vào để giao hàng thì giá cà phê nhân trên thị trường nội địa tăng vượt quá khả năng chịu đựng của doanh nghiệp, mà doanh nghiệp vẫn phải mua để thực hiện nghĩa vụ hợp đồng dẫn đến thua lỗ. Hoặc cũng có doanh nghiệp cà phê Việt Nam bỏ tiền ra mua cà phê nội địa, dự trữ sẵn trong kho ngay thời điểm giá ở trên đỉnh (do dự đoán sai), sau đó cà phê giảm giá mạnh và doanh nghiệp buộc phải bán cho khách hàng theo giá thị trường dẫn đến thua lỗ.

Ngoài trường hợp đó, doanh nghiệp cà phê Việt Nam còn thua lỗ do thị trường bị làm giá bởi giới đầu cơ. Cũng như bất kỳ thị trường nào khác, tình trạng đầu cơ cà phê khá phổ biến tại các sàn giao dịch hàng hóa trên thế giới, nhưng vì doanh nghiệp Việt Nam chưa có kinh nghiệm đã trở thành nạn nhân. Khi các nhà đầu cơ thực hiện bán khống hợp đồng, đẩy giá cà phê sụt giảm liên tục, khiến các doanh nghiệp Việt Nam hoang mang, vội vàng chốt giá sớm, vì cho rằng giá sẽ tiếp tục giảm sâu. Sau đó giới đầu cơ đẩy giá tăng vọt lên và doanh nghiệp Việt Nam không thể trở tay kịp, buộc phải chịu bán cà phê với giá thấp hơn nhiều so với giá thị trường, nếu không muốn bị phạt vi phạm hợp đồng, mất uy tín trong hoạt động xuất khẩu. Đó là còn chưa kể đến trường hợp chất lượng cà phê khi giao hàng kém hơn so với tiêu chuẩn, giá bán cà phê có thể bị trừ lùi, làm tăng thêm khoản lỗ cho doanh nghiệp Việt Nam.

Giao dịch cà phê phái sinh là kênh đầu tư có tính toàn cầu hóa sâu rộng và có nhiều nhân tố vĩ mô của thế giới tác động. Do đó, để thực hiện được các mục đích giảm thiểu rủi ro và thu về lợi nhuận mong muốn, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải tìm hiểu thông tin kinh tế, tài chính, cung cầu hàng hóa trong nước và thế giới, xu hướng biến động giá cả hàng hóa nội địa và các sàn giao dịch cà phê lớn trên thế giới. Kênh đầu tư trên thị trường cà phê phái sinh là nơi hấp dẫn các doanh nghiệp tham gia nhờ có đòn bẫy tài chính cao, tuy nhiên doanh nghiệp cần phải tính toán đến khả năng chấp nhận rủi ro, xác định mức giá nên chốt lời hay mức giá phải cắt lỗ để giảm thiểu những rủi ro do biến động thị trường gây ra. Mỗi thị trường giao dịch đều tiềm ẩn rủi ro nhất định, quan trọng là các nhà đầu tư có thể đánh giá mức độ rủi ro, khả năng chịu đựng của bản thân, lựa chọn phương thức kinh doanh phù hợp và xây dựng các kịch bản thị trường khác nhau có thể xảy ra trong tương lai.

Bài 7: Điều kiện phát triển bền vững thị trường cà phê phái sinh

1. Những ưu điểm của thị trường tương lai

Chức năng hàng đầu của thị trường tương lai nói chung và hợp đồng tương lai nói riêng là giúp các đối tượng sở hữu hàng hóa phòng ngừa được rủi ro biến động giá tương lai của các loại hàng hóa này (còn gọi là sản phẩm gốc hay hàng hóa cơ sở). Một ví dụ tiêu biểu cho chức năng này là nông dân mong muốn tránh thiệt hại do giá giảm trong tương lai của các loại nông sản mà người nông dân đó có thể sản xuất ra trong tương lai. Nhằm mục tiêu đó, người nông dân đó có thể ký hợp đồng kỳ hạn hoặc hợp đồng tương lai giao nông sản sau 3 tháng với giá xác định trước; và đến thời điểm giao hàng, cho dù giá giao ngay trên thị trường đi xuống, người nông dân đó vẫn bán được hàng với giá cao do đã được ấn định giá từ đầu. Trong quá trình thực hiện ký kết hợp đồng như vậy, người nông dân thực chất đã góp phần giảm thiểu thua lỗ; ví dụ, sẽ tránh được quy luật lẩn quẩn ở nhiều địa phương tại Việt Nam là “được mùa mất giá, được giá mất mùa”. Bên cạnh đó, người bán có thể rải đều lượng bán hàng giao thực qua các tháng giao hàng; đồng thời, các bên tham gia thị trường, từ người nông dân, đến nhà sản xuất, người kinh doanh đều biết được mức giá tương ứng với kỳ vọng hàng hóa trong tương lai nhằm định hướng, tính toán các kế hoạch sản xuất kinh doanh.

Có thể thấy, giao dịch giao sau là một nhu cầu có thực và trong thời gian gần đây ở Việt Nam, nhiều nông dân đã ký kết với các thương lái và bán hàng nông sản kỳ hạn (có thể ngoài lý do phòng ngừa giá giảm còn là nhu cầu tài chính). Đáng tiếc, hành động này của họ đôi lúc bị quy cho là “bán non” mang nghĩa xấu và một số cấp chính quyền địa phương đã cử cán bộ xuống địa bàn thuyết phục nông dân không “bán non” nữa. Điều này rõ ràng ảnh hưởng đến các điều kiện hình thành thị trường tương lai và đồng thời cũng đặt ra nhu cầu xây dựng và quản lý hiệu quả thị trường tương lai ở nước ta.

Thị trường tương lai còn tạo ra một kênh đầu tư tài chính thông qua các hoạt động mua/bán hợp đồng tương lai của các nhà đầu tư và kinh doanh chênh lệch giá. Nhóm đối tượng này là những nhà đầu tư chuyên nghiệp và có thể định giá lại các hợp đồng tương lai đã được phát hành để tìm ra chênh lệch tiềm năng và động lực tìm kiếm lợi nhuận chênh lệch giá sẽ khiến các đối tác này tham gia giao dịch hợp đồng tương lai.

Ở khía cạnh vĩ mô, hoạt động của thị trường tương lai còn giúp cho công tác hoạch định chính sách và dự báo thị trường của các đơn vị sản xuất, doanh nghiệp và thậm chí các cơ quan quản lý nhà nước; giúp điều phối hợp lý nguồn cung trong các giai đoạn thời gian phù hợp khác nhau và giảm được chi phí lưu kho, vận chuyển nói chung trong toàn nền kinh tế. Nhờ vậy thị trường tương lai nếu được quản lý tốt sẽ giúp tăng tính hiệu quả và năng suất thực của nền kinh tế quốc dân.

2. Điều kiện cần thiết để xây dựng và phát triển bền vững thị trường cà phê phái sinh

Để có thể giúp thị trường cà phê phái sinh mà điển hình là phải hình thành và xây dựng thị trường cà phê tương lai phát triển bền vững và phát huy đầy đủ những chức năng quan trọng nói trên, điều kiện cần thiết là những nền tảng phát triển của nó phải được đáp ứng ngay từ ban đầu. Những điều kiện như vậy có thể được nhìn nhận dưới ba góc độ: thể chế – luật pháp, kinh tế – tài chính và hạ tầng kỹ thuật.

a. Điều kiện thể chế, luật pháp

Thể chế kinh tế thị trường là điều kiện tiên quyết cho việc hình thành nhu cầu giao dịch các sản phẩm phái sinh khác nhau. Thị trường tương lai là thuộc tính của nền kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường với những hệ giá trị và quy luật kinh tế của nó sẽ là nền tảng quan trọng nhất để hình thành một cách tự phát hoặc có tổ chức nhu cầu giao dịch tương lai đi kèm với những đặc trưng vốn có của loại hình thị trường này. Ví dụ, cơ chế xác định giá dựa trên cơ sở cung cầu và sự tự nguyện trao đổi giữa các bên tham gia; hoặc thị trường vốn hình thành tạo điều kiện thuận lợi cho việc tham gia và hiện thực hóa các loại hình hợp đồng tương lai khác nhau. Vì thế, việc tiếp tục kiên trì thúc đẩy và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường sẽ tạo ra môi trường sống cho thị trường tương lai.

Cần xây dựng triết lý kinh doanh mới về vấn đề đầu tư. Một trong những tính chất của thị trường tương lai là “đánh cược” vào tương lai dựa trên dự đoán; trong khi đó bản thân việc dự đoán luôn có xác suất đúng nên kết quả thu được từ việc tham gia giao dịch tương lai có thể rơi vào trạng thái lãi hoặc lỗ. Chính vì vậy, tính “đánh bạc” của thị trường tương lai là khó tránh khỏi và thậm chí còn rõ rệt hơn nhiều so với mua bán hàng hóa trên thị trường cơ sở. Điều này đòi hỏi việc tuyên truyền một triết lý kinh doanh mới: “đầu tư chứ không phải cờ bạc”, nhất là tại một nước không cho phép loại hình casino tồn tại như Việt Nam.

Một điều kiện nền tảng quan trọng là cần có hệ thống văn bản pháp luật, quy định rõ ràng về điều kiện thành lập, tham gia và hoạt động của thị trường tương lai. Hệ thống văn bản pháp quy có thể được ban hành trước khi mở đường cho hoạt động giao dịch hợp đồng tương lai hình thành. Tuy nhiên, khi thị trường đã đi vào hoạt động, cần có hành lang pháp lý khuyến khích và hỗ trợ sàn giao dịch trong việc cải tiến, phát triển các sản phẩm mới phù hpp hơn. Xuyên suốt trong quá trình đó là những nội dung quản lý hướng tới bảo vệ nhà đầu tư thông qua các quy định về ký quỹ, bảo lãnh, hỗ trợ thanh toán hoặc các biện pháp quản lý rủi ro khác.

b. Điều kiện kinh tế – tài chính

Cần phải tồn tại nhu cầu cao về giao dịch sản phẩm hợp đồng cà phê tương lai và nhu cầu này xuất phát từ nhiều bên tham gia. Nói cách khác, cần phải có nhu cầu thiết thực về việc sử dụng sản phẩm hợp đồng cà phê tương lai và nhu cầu này phải có trước khi thị trường được xây dựng.

Như trên đã đề cập, nhu cầu về giao dịch tương lai nói chung trước hết xuất phát từ phía những đơn vị sở hữu hàng hóa cơ sở với mong muốn hạn chế thiệt hại khi giá giảm; đồng thời những đơn vị nhập hàng/tổ chức sản xuất cũng mong muốn rào chắn rủi ro giá thành tăng trong tương lai; trong khi đó nhu cầu tư một bên thứ ba là các tổ chức, cá nhân mong muốn kinh doanh nhằm mục tiêu hưởng lợi nhuận chênh lệch từ các hợp đồng tương lai. Một khi không có nhu cầu cao của các bên nói trên thì không thể có thị trường tương lai. Ví dụ sàn giao dịch cà phê BCEC khó phát triển vì đa số nông dân trồng cà phê không có nhu cầu giao dịch qua sàn; lý do cơ bản bởi vì họ nhận thấy giao dịch qua các địa lý trung gian thuận tiện và tiết kiệm thời gian hơn nhiều, đó là chưa kể yêu cầu ký quỹ của sàn mà nhiều nông dân không có đủ khả năng. Về phía các công ty kinh doanh cà phê, họ cũng không nhận thấy mình có nhu cầu rõ rệt về việc kinh doanh qua sàn tập trung vì vẫn có thể thu mua cà phê đủ phục vụ cho sản xuất, chế biến trực tiếp từ nông dân.

Thị trường hàng hóa cơ sở (ở đây là thị trường cà phê giao ngay) phát triển đầy đủ là nền tảng cho thị trường tương lai tồn tại. Một đặc điểm dễ thấy là không có thị trường cơ sở thì không thể có thị trường tương lai và giá cả hàng hóa tương lai phục thuộc vào biến động giá cả hàng hóa cơ sở. Thị trường hàng hóa cơ sở phát triển bao hàm tính thanh khoản cao và thông tin thị trường minh bạch, đầy đủ. Tính chất và quy mô của thị trường cơ sở càng cao thì thị trường tương lai tương ứng càng phát triển.

Số lượng và tiềm lực của các thành viên có thể tham gia vào thị trường cà phê tương lai sẽ quyết định sự tồn tại như thế nào của thị trường này. Thị trường tương lai không đơn thuần là nơi gặp gỡ của bên nắm giữ hàng hóa cơ sở và bên nhập hàng, mà còn có sự tham gia tích cực của nhóm đối tượng đầu cơ, kinh doanh chuyên nghiệp (trong nhiều trường hợp một đối tượng có thể đóng nhiều vai trò); và chính nhóm đối tượng này là chất xúc tác tiếp thêm sức sống cho thị trường tương lai với điều kiện họ có đủ năng lực tham gia. Hơn nữa, không chỉ có các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp mà nhà đầu tư cá nhân cũng cần được nuôi dưỡng và khuyến khích tham gia, tạo điều kiện cho thị trường cà phê tương lai phát triển đi lên.

c. Điều kiện kỹ thuật

Cần xây dựng được tập hợp các tiêu chuẩn áp dụng cho hợp đồng tương lai mẫu chuẩn. Hợp đồng mẫu này phải được thiết kế sao cho phù hợp với thực tế và thuận tiện trong áp dụng. Theo đó những điều kiện chuẩn của hợp đồng tương lai tối thiểu phải gồm các nội dung sau: quy mô hợp đồng, đơn vị yết giá, biên độ dao động tối thiểu, biên độ dao động giá tối đa trong ngày, thời gian giao dịch, thời gian thanh toán, ngày giao dịch cuối cùng, điều kiện giao hàng, thủ tục giao hàng.

Cần có cơ sở hạ tầng công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ tin học. Trong thời đại hiện nay, việc xây dựng thị trường tương lai cần áp dụng công nghệ tin học hiện đại ngay từ đầu nhằm xử lý được quy trình thanh toán và kết nối thông tin. Trong vấn đề này, năng lực của đơn vị thanh toán bù trừ trung tâm đóng vai trò mũi nhọn.

Việc lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp cho giao dịch tương lai sẽ ảnh hưởng đến phương thức giao dịch của các thành viên thị trường. Lựa chọn thanh toán bằng tiền thường được áp dụng đối với các sản phẩm phái sinh tài chính. Liên quan đến vấn đề này, việc áp dụng các chuẩn mực kế toán, kiểm toán cho sản phẩm phái sinh cần phải thống nhất và phù hợp.

(Thông tin mang tính tham khảo)

HNH